Định lượng giấy, ghi bằng gsm (gam trên mét vuông), cho biết một mét vuông giấy nặng bao nhiêu gam: số càng lớn thì giấy càng dày, ít thấm mực sang mặt sau. Giấy in văn phòng thường khoảng 70–80 gsm; sổ cho bút máy nên từ khoảng 80 gsm trở lên; giấy vẽ màu nước thường 200–300 gsm. Kiểu kẻ (ngang, ô vuông, chấm, trơn) thì chọn theo việc mình làm trên trang.
Mở một cuốn sổ mới, viết dòng đầu tiên lên trang giấy phẳng mịn, mực không lem: đó là một trong những niềm vui nhỏ của người thích ghi chép. Bài này giúp đọc hiểu nhãn giấy để chọn đúng ngay từ đầu.
Gsm là gì và vì sao quan trọng
Gsm (grams per square metre) là khối lượng của một mét vuông giấy. Tờ A0 có diện tích đúng 1 m², và mỗi lần gập đôi thì ra khổ kế tiếp: A1, A2, A3, A4. Tờ A4 vì vậy có diện tích 1/16 m². Một tờ A4 giấy 80 gsm nặng khoảng 80 ÷ 16 = 5 gam.
Gsm nói về độ nặng, không nói thẳng về độ dày hay chất lượng. Hai loại giấy cùng 80 gsm có thể khác nhau nhiều về độ láng, độ chống thấm mực, tuỳ cách hồ (phủ keo bề mặt) và loại bột giấy. Nhưng trong cùng một dòng giấy, gsm cao hơn gần như luôn dày và đục hơn.
| Định lượng | Cảm nhận | Dùng phổ biến |
|---|---|---|
| 50–60 gsm | Mỏng, nhẹ, dễ thấy chữ mặt sau | Vở phổ thông mỏng, giấy nháp, sách in số lượng lớn |
| 70–80 gsm | Tiêu chuẩn văn phòng | Giấy in, photo, vở học sinh loại thường |
| 90–120 gsm | Dày dặn, cầm thấy chắc tay | Sổ tay cho bút máy, bút dạ, giấy in tài liệu đẹp |
| 150–200 gsm | Gần như bìa mỏng | Giấy vẽ chì, giấy mỹ thuật, tờ rơi cứng |
| 250–300 gsm trở lên | Cứng, dày | Giấy màu nước, bìa sổ, thiệp |
Lem, thấm, hiện bóng: ba hiện tượng hay nhầm
- Lem (feathering): nét mực toả ra thành các sợi lông nhỏ ở mép chữ. Do giấy hút mực quá nhanh theo thớ sợi. Gặp nhiều ở giấy ít hồ, khi viết bút máy ngòi to hoặc bút dạ.
- Thấm sang mặt sau (bleed-through): mực xuyên hẳn qua giấy, để lại vết ở mặt kia và có khi cả trang bên dưới.
- Hiện bóng (ghosting): mực không xuyên qua nhưng giấy mỏng nên nhìn thấy chữ mặt sau. Đây là chuyện độ đục, không phải chuyện mực.
Muốn thử nhanh một cuốn sổ, hãy viết một dòng bằng chính cây bút mình hay dùng ở trang cuối, chờ một phút, lật lại xem. Giấy ổn với bút bi chưa chắc ổn với bút máy hay bút dạ màu.
Kẻ ngang, ô vuông, chấm hay trơn
| Kiểu kẻ | Hợp với | Chưa hợp với |
|---|---|---|
| Kẻ ngang | Viết đoạn văn, ghi bài giảng, nhật ký | Vẽ sơ đồ, bảng |
| Ô vuông (thường 5 mm) | Toán, vẽ biểu đồ, bảng, chữ in thẳng hàng | Người thấy đường kẻ dày làm rối mắt |
| Chấm (dot grid) | Vừa viết vừa vẽ, lập kế hoạch, sơ đồ tư duy | Người cần đường dẫn dòng rõ ràng |
| Trơn | Phác thảo, vẽ, viết tự do | Viết dài nhiều dòng thẳng |
| Ô li (vở học sinh Việt Nam) | Tập viết chữ đúng chiều cao, độ rộng | Ghi chép nhanh của người lớn |
Vở ô li của học sinh tiểu học
Vở ô li là kiểu kẻ quen thuộc ở Việt Nam: các dòng kẻ ngang sát nhau chia mỗi hàng chữ thành nhiều ô li nhỏ, kết hợp với các đường dọc tạo thành ô vuông lớn. Nhờ đó học sinh viết đúng chiều cao từng nét, ví dụ chữ cái thường cao mấy ô li, chữ có nét khuyết cao mấy ô li. Phụ huynh nên mua vở đúng loại thầy cô dặn, vì chiều cao chữ mẫu được dạy theo đúng kiểu kẻ đó.
Giấy chấm: vì sao được nhiều người lớn chuộng
Các chấm mờ đặt cách đều, phổ biến là 5 mm. Chúng đủ để viết thẳng hàng và kẻ bảng, nhưng không lấn át phần chữ hay hình vẽ như đường kẻ liền. Khi chụp ảnh trang sổ, các chấm cũng gần như biến mất, trang trông sạch hơn.
Khổ giấy và kiểu đóng sổ
Khổ A theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 216 có tỉ lệ cạnh xấp xỉ 1 : √2. Nhờ tỉ lệ này, gập đôi tờ A4 ra hai tờ A5 giữ nguyên hình dạng, giúp thu nhỏ hoặc phóng to bản in giữa các khổ mà không bị méo.
- A4: tài liệu, bài kiểm tra, sổ họp cần trang rộng.
- A5: sổ tay phổ biến nhất, vừa cặp, vừa bàn.
- A6: sổ bỏ túi, ghi nhanh.
- B5: nhỉnh hơn A5, nhiều vở học sinh và sổ đại học dùng khổ này.
| Kiểu đóng | Mở phẳng | Ưu điểm | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Khâu chỉ | Tốt | Bền, xé trang không làm sổ rời | Thường dày, nặng hơn |
| Dán gáy keo | Kém, hay bật lại | Gọn | Ép mạnh để mở phẳng dễ làm gãy gáy |
| Lò xo | Rất tốt, gập ngược ra sau được | Viết hai mặt dễ, xé trang dễ | Người thuận tay trái bị vướng lò xo |
| Đóng ghim | Khá | Mỏng, nhẹ | Ít trang, dễ tuột tờ ở giữa |
Chọn giấy theo bút
- Bút bi, bút chì: gần như giấy nào cũng ổn. Giấy rất láng làm bút chì trơn, nét nhạt.
- Bút gel: mực nhiều, khô chậm. Giấy láng quá làm mực lâu khô, dễ quệt lem.
- Bút máy: cần giấy có hồ tốt, thường từ khoảng 80 gsm. Giấy quá hút làm nét lem và tốn mực.
- Bút dạ, bút đánh dấu: dễ thấm sang mặt sau. Nên dùng giấy dày, hoặc chỉ viết một mặt.
- Màu nước: giấy dưới khoảng 200 gsm sẽ cong vênh khi ướt.
Bảo quản giấy và sổ ở khí hậu nồm ẩm
Giấy hút hơi nước trong không khí. Vào mùa nồm ở miền Bắc, giấy dễ mềm, gợn sóng, mực khô lâu hơn và có thể lem hơn bình thường. Vài cách đơn giản:
- Cất sổ, giấy dự trữ trong ngăn kéo kín hoặc túi có khoá kéo, không để sát tường ẩm.
- Không để giấy ở chỗ nắng chiếu trực tiếp: giấy ngả vàng và giòn nhanh hơn.
- Giấy in để nằm phẳng trong ram, không dựng đứng lâu ngày.
- Sổ đã viết xong, có giá trị lưu giữ, nên cất cùng gói hút ẩm.
Thớ giấy: vì sao gấp chiều này phẳng, chiều kia gồ
Trong máy xeo giấy, các sợi xơ có xu hướng nằm xuôi theo chiều chạy của băng giấy, tạo ra "thớ". Giấy gấp xuôi thớ thì nếp phẳng, gọn; gấp ngang thớ thì nếp dễ gồ, nứt ở giấy dày. Muốn biết thớ chạy chiều nào, xé thử một góc giấy nháp theo hai chiều: chiều xé thẳng, gọn hơn thường là chiều xuôi thớ. Một cách khác là uốn nhẹ tờ giấy theo từng chiều: chiều nào mềm, dễ uốn hơn là chiều xuôi thớ.
Biết chuyện này có ích khi tự làm sổ, gấp thiệp hay đóng tập: sổ đóng xuôi thớ thì trang lật êm, gáy ít bị cong vênh khi trời ẩm.
Câu hỏi thường gặp
Giấy 70 gsm và 80 gsm khác nhau thế nào?
Giấy 80 gsm nặng và thường dày, đục hơn giấy 70 gsm cùng loại, nên ít thấy chữ mặt sau và ít bị kẹt khi in hai mặt. Với in ấn văn phòng thông thường cả hai đều dùng được; viết bút máy hoặc bút dạ thì 80 gsm trở lên dễ chịu hơn.
Gsm là viết tắt của gì?
Gsm là grams per square metre, tức số gam trên một mét vuông giấy. Đây là đơn vị đo định lượng giấy dùng phổ biến trên thế giới, giúp so sánh độ nặng giữa các loại giấy.
Sổ kẻ chấm dùng để làm gì?
Sổ kẻ chấm có các chấm mờ cách đều, giúp viết thẳng hàng và kẻ bảng, vẽ sơ đồ dễ dàng mà không bị đường kẻ liền làm rối trang. Nó hợp với người vừa ghi chép vừa vẽ, lập kế hoạch tuần hay sơ đồ tư duy.
Viết bút máy nên dùng giấy bao nhiêu gsm?
Thường nên từ khoảng 80 gsm trở lên, và quan trọng hơn là giấy có lớp hồ tốt để mực không lem. Cách chắc nhất là viết thử bằng chính cây bút của mình ở trang cuối sổ.
Một tờ giấy A4 nặng bao nhiêu gam?
Tờ A4 có diện tích 1/16 mét vuông, nên nặng bằng định lượng chia 16. Giấy 80 gsm nặng khoảng 5 gam một tờ, giấy 70 gsm khoảng 4,4 gam.